Nguồn gốc và lịch sử cây chè Việt

Lịch sử uống trà đã có từ 4000 năm, xuất phát từ cái nôi vùng gió mùa Đông Nam Á đã lan rộng ra toàn cầu. Hiện nay, trà thậm chí được uống nhiều và phổ biến hàng ngày, xếp thứ nhì sau nước với 50% dân số thế giới uống trà. Nhưng lịch sử phát triển của cây chè Việt Nam như thế nào thì có lẽ nhiều người cũng chưa biết rõ. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu về lịch sử cây chè Việt để bạn đọc tham khảo.

Nguồn gốc của cây chè (trà) xanh

Cây chè xanh (trà xanh) có tên khoa học là Camellia Sinensis. Đây là loài cây gắn liền với lịch sử cũng như văn hoá lâu đời của đất nước Việt Nam chúng ta. Việt Nam nằm trong khu ực những cây trà đầu tiên hiện trên thế giới. Nếu bạn ghé các tỉnh biên giới phía Đông và Tây Bắc của nước ta thì bạn sẽ thấy những cây chè có tuổi đời hàng trăm năm tuổi được người dân bản địa chăm sóc và thu hái. Những cây chè này chính là hậu duệ của những cây chè xuất hiện đầu tiên trên trái đất từ rất lâu rồi. Và văn hoá uống trà của người Việt cũng đã có từ hàng trăm năm nay.

 

Du lịch miền Bắc tham quan những đồi chè xanh bát ngát

 

Uống lá chè xanh đã là một thói quen của người Việt Nam từ nhiều đời trở lại đây. Cách uống chè xanh của chúng ta vốn dĩ không cầu kỳ trong chế biến lẫn thưởng thức như các quốc gia Đông Á khác. Do là quốc gia nông nghiệp nên phần lớn người dân sống theo kiểu ‘tự cung, tự cấp’. Lá chè xanh tươi được hái từ cây chè có sẵn trong vườn nhà. Sau đó đun với nước và uống vậy thôi. Nước chè vừa là thức uống để giải khát. Vừa là một phần không thể thiếu khi khách đến chơi nhà. Rồi đến mọi hoạt động văn hoá như lễ hội, cưới xin hay ma chay. Đều không thể thiếu ấm nước chè.

Cây chè vốn dĩ được sử dụng cho mục đích cá nhân là chính. Còn buôn bán chỉ là phụ mà thôi. Đến khi thực dân Pháp đô hộ nước ta thì cây chè mới trở thành loài cây công nghiệp thực sự. Phục vụ cho mục đích thương mại. Trong thời kỳ Pháp Thuộc thì người Pháp bắt đầu mở nông trường trà đầu tiên của Việt Nam ở Phú Thọ vào năm 1890. Vào giai đoạn này thì lá chè khô là một dạng thực phẩm bán rất được giá ở Châu Âu. Thế nên cả Anh lẫn Pháp đều trồng cây chè quy mô lớn ở các thuộc địa của họ. Không chỉ thay đổi cách trồng cây chè theo hướng công nghiệp. Người Pháp còn hiện đại hoá luôn cách chế biến chè ở Việt Nam. Và cách chế biến như vậy vẫn còn được giữ đến tận ngày nay.

 

Đồn điền chè đầu tiên của người Pháp ở Gia Lai - VnExpress Du lịch

Đồn điền chè đầu tiên của Pháp ở Gia Lai

Sự phát triển của cây chè Việt

a/ Thời kỳ trước năm 1882

Từ xa xưa, người Việt Nam trồng chè dưới 2 loại hình:

– Chè vườn hộ gia đình uống lá chè tươi, tại vùng chè dồng bằng sông Hồng ở Hà đông, chè đồi ở Nghệ An.

– Chè rừng vùng núi, uống chè mạn, lên men một nửa, như vùng Hà Giang, Bắc Hà …

b/ Thời kỳ 1882-1945

Ngoài 2 loại chè trên, xuất hiện mới 2 loại chè công nghiệp; chè đen công nghệ truyền thống OTD, và chè xanh sao chảo Trung Quốc. Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết bị công nghệ hiện đại. Người dân Việt Nam, sản xuất chè xanh tại hộ gia đình và tiểu doanh điền. Chè đen xuất khẩu sang thị trường Tây Âu, chè xanh sang thị trường Bắc Phi là chủ yếu. Diện tích chè cả nước là 13305 ha, sản lượng 6.000 tấn chè khô/năm.

c/ Thời kỳ độc lập (1945- nay)

Sau 1954, Nhà nước xây dựng các Nông trường quốc doanh và Hợp tác xã nông nghiệp trồng chè; chè đen OTD xuất khẩu sang Liên Xô – Đông Âu, và chè xanh xuất khẩu sang Trung Quốc. Đến hết năm 2002, tổng diện tích chè là 108.000 ha, trong đó có 87.000 ha chè kinh doanh. Tổng số lượng chè sản xuất 98.000 tấn, trong đó xuất khẩu  72.000 tấn đạt 82 triệu USD.

Đồi chè Việt Nam đẹp ngất ngây trong cuộc thi ảnh thế giới

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

viVietnamese