Cơ giới hóa ngành công nghiệp chè: Thực trạng và hệ quả (P1)

Thực trạng của ngành công nghiệp trồng chè

Thu hoạch những chồi chè theo công thức “hai lá và một búp” bằng tay đã là quy chuẩn trong ngành chè trong nhiều thế kỷ. Cần có những ngón tay nhanh nhẹn và kỹ năng kiên nhẫn của những nghệ nhân hái trà để chọn được những chồi vừa đúng tuổi, bỏ qua những chồi non và loại bỏ những lá quá già. Việc tuốt bằng tay có chọn lọc – nếu được thực hiện đúng cách – sẽ cho ra một loại trà chất lượng cao trong tách của bạn; Nếu vội vàng, việc tuốt các chồi non sẽ làm giảm năng suất và kể cả những lá chưa trưởng thành làm giảm chất lượng cốc. Đơn giản vậy thôi.
Khám phá đồi trà Tân Cương Thái Nguyên
Tuy nhiên, ngày nay, ngành công nghiệp chè phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp. Đó là một khuôn mặt quen thuộc của nền nông nghiệp toàn cầu, thương mại khuyến khích nhà sản xuất phát triển hơn, dẫn đến cung vượt cầu, giá thấp hơn và thu nhập giảm. Kể từ những năm 1960, những tiến bộ kỹ thuật trong chọn giống chè, chăn nuôi cây trồng, dinh dưỡng và quản lý đồng ruộng đã làm tăng năng suất của ngành công nghiệp này một cách ngoạn mục. Năng suất lá xanh trên một mẫu Anh tăng gấp 3 đến 5 lần, sản lượng chè toàn cầu tăng từ một triệu tấn một năm lên hơn sáu triệu. Giá bán đấu giá chè (tính theo giá thực tế, cho phép lạm phát) giảm xuống, nhưng các nhà sản xuất đã phát triển mạnh nhờ giảm tỷ suất lợi nhuận, bán được nhiều sản phẩm hơn với đơn giá thấp hơn. Giá chè bán buôn thấp và vận chuyển bằng container rẻ tiền này đã giúp các siêu thị tiêu thụ trà đen túi lọc hàng hóa và quảng bá nó rất thành công với tư cách là người dẫn đầu về thua lỗ.
Sau 60 năm trôi qua và các nhà sản xuất chè hàng hóa đó giờ đây phải đối mặt với những khó khăn khác: bị hạn chế bởi giá thấp nhưng chi phí sản xuất tăng nhanh, chủ yếu là chi phí thuê nhân công tuốt bằng tay. Càng ngày, để tiếp tục kinh doanh, người sản xuất chè đang chuyển sang thu hoạch bằng máy để cắt giảm nguồn nhân lực. Không có số liệu chính thức, nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng ít nhất 70% tổng số bụi chè trên toàn cầu hiện nay được thu hoạch bằng máy cơ giới hoặc với một số trợ giúp cơ học – kéo cắt tay hoặc liềm – để tăng tốc các ngón tay của con người. Sự thay đổi này diễn ra nhanh chóng và có lẽ chỉ ở mức 5% vào năm 1980 (chủ yếu ở Nhật Bản và Liên Xô), và nó đã gây tranh cãi. Vậy, điều gì đã thay đổi?
Đặc điểm tính năng của máy hái chè

Cơ giới hóa hay thủ công đang là xu hướng?

Khi chi phí sản xuất (COP) tăng lên để phù hợp và thường vượt quá giá đấu giá, các nhà sản xuất chè hàng hóa phải đối mặt với một thực tế rõ ràng với sự lựa chọn không thể tránh khỏi: cơ giới hóa hoặc đối mặt với phá sản. Ở Sri Lanka trong thời gian từ 2010 đến 2019, chi phí sản xuất chè trung bình của ngành bằng hoặc cao hơn giá đấu giá trung bình trong 4 năm trên 10. Năng suất tăng không còn phù hợp với chi phí sản xuất tăng cao, tỷ suất lợi nhuận thấp thậm chí còn giảm, lao động tuốt. đã rời bỏ địa phận trà để được trả lương cao hơn và làm việc dễ dàng hơn ở các thành phố.
Để thu hút bất kỳ người lao động nào còn lại ở khu vực nông thôn, tiền lương phải bằng với mức lương của thành phố. Nhân công thường là chi phí chính để sản xuất một kg chè hàng hóa, và một cơ sở tuốt chè lớn ở Ấn Độ, Sri Lanka hoặc Châu Phi cần từ 1.000 đến 1.500 người tuốt. Các nguyên liệu đầu vào để trồng cây bụi, cộng với lao động nhà máy, điện và nhiên liệu để chế biến, đóng gói số lượng lớn, chi phí quản lý, bảo trì và khấu hao tất cả chỉ chiếm một nửa tổng chi phí của kilogam đó; 50 phần trăm còn lại là chi phí lao động tuốt (ngày càng tăng). Ở các quốc gia tuốt theo tiêu chuẩn cao hơn, chi phí lao động còn tăng lên – cao tới 63% tổng COP ở Sri Lanka (dữ liệu năm 2011) và lương lao động ở đó tăng 82% trong thập kỷ 2010-2019.
Đối mặt với giá cả thấp hơn, chi phí lương cao hơn, thiếu lao động và tình trạng vắng mặt tràn lan (thường là 30% ngày làm việc bị mất ở Darjeeling), các nhà sản xuất chè đã học cách hái ít chọn lọc hơn với tiêu chuẩn lá thấp hơn, cho phép thu hoạch hàng ngày nhiều hơn mỗi người tuốt (phần thắng dành cho người cày thuê, được trả theo số kg, nhận được thu nhập tốt hơn) và về tổng số người làm việc ít hơn (phần thắng dành cho người sản xuất).
Ở Sri Lanka trong thập kỷ qua, mức trung bình của hai người tuốt được sử dụng trên một ha (2,5 mẫu Anh) đã giảm xuống chỉ còn một người do việc tuốt lá thô dễ dàng hơn. Người thiệt ở đây sẽ người tiêu dùng chè hàng hóa, mặc dù không thấy giá bán lẻ tăng đáng kể, nhưng chất lượng trà sẽ giảm dần. Mặc dù đã hoàn thành quá trình tuốt có chọn lọc và giảm quy mô lực lượng lao động, nhưng vẫn khó tìm được lao động tuốt cần thiết – nhưng kiểu máy có giá trị thấp với số lượng lớn là một tình huống kinh điển. do đó, đối với người sản xuất, việc chuyển sang cơ giới hóa là tất yếu.
Hot selling in Sri Lanka tea( lavender) harvesting tools SV120 - Online Shopping
Nhìn chung, thu hoạch cơ giới hóa bằng lưỡi dao qua lại không thể đem đến chất lượng tốt so với phương pháp tuốt tay thủ công, nhưng cái lợi quá lớn về mặt kinh tế khó có thể khiến các doanh nghiệp nghĩ lại. Vậy, liệu số phận của những người hái chè thủ công sẽ đi về đâu, cùng tìm hiểu trong bài viết tiếp theo nhé.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

viVietnamese